About this capture
Common Crawl
Nghiên cứu nồng độ thuốc trong huyết tương là một trong các nội dung của Dược động học ứng dụng. Nồng độ thuốc trong huyết tương liên quan đến sinh khả dụng của thuốc trong chế phẩm cũng như liều điều trị và yếu tố cơ địa, bệnh lý của bệnh nhân. Trong điều trị các bệnh nhiễm trùng nói chung và điều trị bệnh lao nói riêng, nồng độ thuốc trong huyết tương có vai trò quan trọng để tiêu diệt vi khuẩn trong tổn thương. Xác định được nồng độ thuốc là một trong các chỉ số dược động học quan trọng để xác định liều điều trị cho bệnh nhân đã phù hợp hay chưa, nhằm tối ưu hóa chỉ định điều trị cho bệnh nhân.
Nghiên cứu nồng độ thuốc trong huyết tương là một trong các nội dung của Dược động học ứng dụng. Nồng độ thuốc trong huyết tương liên quan đến sinh khả dụng của thuốc trong chế phẩm cũng như liều điều trị và yếu tố cơ địa, bệnh lý của bệnh nhân. Trong điều trị các bệnh nhiễm trùng nói chung và điều trị bệnh lao nói riêng, nồng độ thuốc trong huyết tương có vai trò quan trọng để tiêu diệt vi khuẩn trong tổn thương. Xác định được nồng độ thuốc là một trong các chỉ số dược động học quan trọng để xác định liều điều trị cho bệnh nhân đã phù hợp hay chưa, nhằm tối ưu hóa chỉ định điều trị cho bệnh nhân.
Các thuốc chống lao rifampicin (RMP), isoniazid (INH), pyrazinamid (PZA) là các thuốc chống lao thiết yếu, được dùng theo đường uống trong dạng chế phẩm đơn lẻ hoặc phối hợp nhiều thành phần. Trong các nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã đề cập đến các kết quả nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về nồng độ rifampicin trong huyết tương bệnh nhân lao [1]. Một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy nồng độ thuốc chống lao trong huyết tương với liều điều trị hàng ngày có tỷ lệ đáng kể bệnh nhân có nồng độ dưới phạm vi điều trị, nhất là đối với RMP, INH.[3, 4, 6, 8, 9, 11, 12] Trong khi giám sát nồng độ thuốc trong huyết tương để hiệu chỉnh liều điều trị đã được áp dụng đối với nhiều thuốc nhưng với thuốc chống lao lại ít được áp dụng. Với liều điều trị được chỉ định hiện nay liệu nồng độ thuốc đạt được trong huyết tương bệnh nhân có phù hợp với nồng độ điều trị hay không?
Các thuốc chống lao rifampicin (RMP), isoniazid (INH), pyrazinamid (PZA) là các thuốc chống lao thiết yếu, được dùng theo đường uống trong dạng chế phẩm đơn lẻ hoặc phối hợp nhiều thành phần. Trong các nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã đề cập đến các kết quả nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về nồng độ rifampicin trong huyết tương bệnh nhân lao [1]. Một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy nồng độ thuốc chống lao trong huyết tương với liều điều trị hàng ngày có tỷ lệ đáng kể bệnh nhân có nồng độ dưới phạm vi điều trị, nhất là đối với RMP, INH.[3, 4, 6, 8, 9, 11, 12] Trong khi giám sát nồng độ thuốc trong huyết tương để hiệu chỉnh liều điều trị đã được áp dụng đối với nhiều thuốc nhưng với thuốc chống lao lại ít được áp dụng. Với liều điều trị được chỉ định hiện nay liệu nồng độ thuốc đạt được trong huyết tương bệnh nhân có phù hợp với nồng độ điều trị hay không?
Những vấn đề đề cập trên là lý do chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu:
Những vấn đề đề cập trên là lý do chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu:
Khảo sát nồng độ RMP, INH, PZA trong huyết tương bệnh nhân lao phổi và lao màng phổi ở thời điểm 2h sau khi uống.
Khảo sát nồng độ RMP, INH, PZA trong huyết tương bệnh nhân lao phổi và lao màng phổi ở thời điểm 2h sau khi uống.
I. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân nghiên cứu: 168 bệnh nhân lao người lớn (92 bệnh nhân lao phổi và 76 bệnh nhân lao màng phổi), điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương, Bệnh viện Lao và bệnh phổi Hải Phòng.
Bệnh nhân nghiên cứu: 168 bệnh nhân lao người lớn (92 bệnh nhân lao phổi và 76 bệnh nhân lao màng phổi), điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương, Bệnh viện Lao và bệnh phổi Hải Phòng.
Tiêu chuẩn lựa chọn: Lao phổi hoặc màng phổi, > 16 tuổi, điều trị nội trú tại bệnh viện trong giai đoạn tấn công, phác đồ điều trị có RMP, INH, PZA; chức năng gan thận trước điều trị bình thường.
Tiêu chuẩn lựa chọn: Lao phổi hoặc màng phổi, > 16 tuổi, điều trị nội trú tại bệnh viện trong giai đoạn tấn công, phác đồ điều trị có RMP, INH, PZA; chức năng gan thận trước điều trị bình thường.
Thuốc điều trị
Thuốc điều trị
Viên hỗn hợp: – 3 thành phần (RMP 150mg + INH 75mg+ PZA 400mg) do công ty CP Dược Nam Hà sản xuất.
Viên hỗn hợp: – 3 thành phần (RMP 150mg + INH 75mg+ PZA 400mg) do công ty CP Dược Nam Hà sản xuất.
– 2 thành phần (RMP 150mg + INH 100mg) do Fatol Arzneimittel (Đức) sản xuất
– 2 thành phần (RMP 150mg + INH 100mg) do Fatol Arzneimittel (Đức) sản xuất
Viên đơn lẻ: RMP 150mg, INH 100mg, PZA 500mg do Fatol Arzneimittel (Đức) sản xuất.
Viên đơn lẻ: RMP 150mg, INH 100mg, PZA 500mg do Fatol Arzneimittel (Đức) sản xuất.
Liều điều trị: liều điều trị được tính theo mg/kg cân nặng, theo chỉ định liều điều trị hàng ngày.
Liều điều trị: liều điều trị được tính theo mg/kg cân nặng, theo chỉ định liều điều trị hàng ngày.
Mục tiêu: khảo sát nồng độ rifampicin, isoniazid, pyrazinamid huyết tương tại thời điểm 2h sau khi uống thuốc ở bệnh nhân lao phổi và lao màng phổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: định lượng nồng độ ri- fampicin, isoniazid, pyrazinamid trong huyết tương 168 bệnh nhân lao phổi và lao màng phổi ở thời điểm 2h sau khi uống. Định lượng bằng nồng độ thuốc bằng phương pháp HPLC. Xác định tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ rifam- picin, isoniasid, pyrazinamid huyết tương dưới nồng độ điều trị. Kết quả: có sự khác biệt rất lớn về nồng độ ri- fampicin, isoniazid, pyrazinamid đo được ở cùng thời điểm sau khi uống giữa các bệnh nhân lao. Nồng độ trung bình rifampicin 6,13 ± 4,66 mg/ml, isoniazid 2,99 ± 1,94mg/ml, pyrazinamid 38,98 ± 18,39 mg/ml. Không có sự khác biệt về nồng độ giữa nhóm bệnh nhân lao phổi và nhóm lao màng phổi. Tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ dưới phạm vi điều trị đối với từng thuốc là rifampicin76,83%, isoniazid 51,85%; pyrazinamid 10,13%. Nồng độ pyrazinamid huyết tương lớn hơn nồng độ điều trị chiếm 12,03% bệnh nhân. Kết luận: nồng độ rifampicin, isoniazid, pyrazinamid huyết tương có sự khác biệt lớn giữa các bệnh nhân. Nồng độ INH và RMP thấp hơn nồng độ điều trị chiếm tỷ lệ cao. Việc giám sát nồng độ thuốc chống lao trong huyết tương nhằm hiệu chỉnh liều điều trị là cần thiết, đặc biệt đối với bệnh nhân đáp ứng kém với hóa trị liệu.
Mục tiêu: khảo sát nồng độ rifampicin, isoniazid, pyrazinamid huyết tương tại thời điểm 2h sau khi uống thuốc ở bệnh nhân lao phổi và lao màng phổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: định lượng nồng độ ri- fampicin, isoniazid, pyrazinamid trong huyết tương 168 bệnh nhân lao phổi và lao màng phổi ở thời điểm 2h sau khi uống. Định lượng bằng nồng độ thuốc bằng phương pháp HPLC. Xác định tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ rifam- picin, isoniasid, pyrazinamid huyết tương dưới nồng độ điều trị. Kết quả: có sự khác biệt rất lớn về nồng độ ri- fampicin, isoniazid, pyrazinamid đo được ở cùng thời điểm sau khi uống giữa các bệnh nhân lao. Nồng độ trung bình rifampicin 6,13 ± 4,66 mg/ml, isoniazid 2,99 ± 1,94mg/ml, pyrazinamid 38,98 ± 18,39 mg/ml. Không có sự khác biệt về nồng độ giữa nhóm bệnh nhân lao phổi và nhóm lao màng phổi. Tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ dưới phạm vi điều trị đối với từng thuốc là rifampicin76,83%, isoniazid 51,85%; pyrazinamid 10,13%. Nồng độ pyrazinamid huyết tương lớn hơn nồng độ điều trị chiếm 12,03% bệnh nhân. Kết luận: nồng độ rifampicin, isoniazid, pyrazinamid huyết tương có sự khác biệt lớn giữa các bệnh nhân. Nồng độ INH và RMP thấp hơn nồng độ điều trị chiếm tỷ lệ cao. Việc giám sát nồng độ thuốc chống lao trong huyết tương nhằm hiệu chỉnh liều điều trị là cần thiết, đặc biệt đối với bệnh nhân đáp ứng kém với hóa trị liệu.
”
Khảo sát nồng độ rifampicin, isoniazid, pyrazinamid trong huyết tương tại thời điểm 2h sau khi uống thuốc ở bệnh nhân lao phổi và lao màng phổi “
IDM
( TẮT NÓ TRƯỚC KHI TẢI TÀI LIỆU )
KHI CÓ LỖI LIÊN QUAN ĐẾN NẠP VÀ TRỪ ĐIỂM, TÀI LIỆU CHỈ CÓ MỘT PHẦN XIN VUI LÒNG LIÊN HÊ BỘ PHẬN HỖ TRỢ.
NẠP
TRỪ
CHỈ CÓ MỘT PHẦN
✉
( 24/24H )
☎
( 8AM – 8PM )
|
|
|
|
|