Đăng ký | Sitemap
 
Phẫu thuật u tủy sống
 

Phẫu thuật u tủy sống

U tủy là một bệnh lý đã được mô tả từ lâu, Horsley và Gowers báo cáo phẫu thuật thành công một trường hợp u trong màng cứng ngoài tủy năm 1888 [6]. Mặc dù chiếm một tỷ lệ thấp so với các khối u khác trong cơ thể (2,06%), nhưng bệnh lại gây ra những hậu quả nặng nề, tàn phế, thậm chí là  tử  vong nếu  không  được  phát  hiện  và điều  trị kịp thời [4, 6].
U tủy là những khối u phát triển từ bên trong hoặc xung quanh tủy sống, xuất phát từ màng tủy. Các khối u này có thể ở trong tủy sống (intramedullary), hoặc  bên  dưới  màng  tủy  ngoài tủy sống (extramedullary–intradural), hoặc nằm giữa  màng  tủy  và  cột  sống  (extradural). U tủy  có thể là khối u nguyên phát từ tủy hoặc là hậu quả của khối u di căn từ phổi, vú, thận hay tiền liệt tuyến [3]. Triệu chứng mà khối u gây ra phụ thuộc vị trí của khối u, từng loại u cũng như tình trạng toàn  thân  của  người  bệnh.  Sự  xuất  hiện  triệu chứng  cũng  khác  nhau, những  khối  u tủy  di căn thường phát triển rầm rộ, trong khi đó, các khối u nguyên phát tại tủy diễn biến âm thầm hơn.
Phẫu thuật lấy u tủy là phương pháp điều trị chủ yếu nhằm lấy bỏ khối u, giải phóng chèn ép rễ, tủy tạo điều kiện cho tế bào thần kinh hồi phục. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu với mục tiêu:
1.    Mô tả triệu chứng lâm sàng, phương pháp phẫu thuật u tủy sống.
2.    Đánh giá kết quả phẫu thuật u tủy sống.
I.    ĐỐI   TƯỢNG   VÀ   PHƯƠNG   PHÁP NGHIÊN CỨU
1.    Đối tượng nghiên cứu
Gồm  41 trường  hợp  được  chẩn  đoán  là u tủy (dựa trên các triệu chứng lâm sàng và hình ảnh chụp cộng hưởng từ cột sống) được phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật thần kinh – Bệnh viện Xanh Pôn trong vòng 5 năm từ 2003 - 2008.
2.    Phương pháp nghiên cứu
Áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang không đối chứng.
Về lâm  sàng, các tác giả chia u tủy làm các giai đoạn đau theo rễ, hội chứng Brown Séquard và liệt không hoàn toàn hoặc hoàn toàn [4, 5]. Trên lâm sàng, chúng tôi sử dụng bảng phân độ của Nurick.
Về  phân  loại  u trên  lâm  sàng,  có  thể  phân chia theo vị trí cột sống, theo vị trí tương ứng giữa tủy và màng cứng. Chúng tôi chia u tủy theo 4 nhóm trên vùng cột sống, đó là cổ, ngực, đuôi ngựa  (L1 - L2) và thắt lưng cùng.  Dựa vào  vị trí của u so với tủy và màng cứng, chúng tôi phân chia thành 3 loại: là u ngoài màng cứng (extradural), u dưới màng cứng - ngoài tủy (extramedullary - intradural) và u nội tủy (intramedullary). Tuy nhiên, kết quả này chỉ được khẳng định sau phẫu thuật.
Về  chẩn  đoán  hình  ảnh,  phim  chụp  cộng hưởng  từ  cột  sống  là  tiêu  chuẩn  vàng  để  chẩn đoán u tủy. Dựa trên phim chụp cộng hưởng từ có thể xác định vị trí, kích thước, ranh giới của khối u so với màng cứng và tủy.
Về kỹ thuật mổ: bệnh nhân đều được mổ dưới gây mê nội khí quản, tư thế nằm sấp. Đường rạch
da là đường giữa sau cột sống tương ứng với vị trí của khối u. Sau khi bộc lộ vùng cột sống, phương pháp  cắt  cung sau (laminectomy), hoặc  cắt  cung bên (hemilaminectomy) hoặc cắt cung bên rồi đặt lại mảnh cắt (osteoplastic laminotomy) được chúng tôi áp dụng. Tổ chức u được lấy và xét nghiệm giải phẫu  bệnh  để  xác  định phân  loại  mô  bệnh  học của khối u lấy được.

U tủy  là bệnh lý không  thường  gặp nhưng có thể  để lại di chứng  nặng  nề  hay tàn phế.  Phẫu thuật  là phương pháp điều trị chủ yếu nhằm loại bỏ khối u giải phóng chèn ép rễ, tủy. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến hành trên 41 bệnh nhân được phẫu thuật u tủy từ năm 2003 - 2008 tại khoa phẫu thuật thần kinh, bệnh viện Xanh Pôn. Tất cả các bệnh nhân đều được chụp cộng hưởng từ trước mổ. Dấu hiệu lâm sàng trước, sau mổ được đánh giá theo phân loại Nurick. Kết quả: các bệnh nhân có độ tuổi từ 9 - 74 tuổi, trong đó hay gặp nhất là từ 20 - 50 tuổi. 73,1% bệnh nhân đến viện khi đã có dấu hiệu chèn ép tủy rõ trên lâm sàng. Khối u xuất hiện chủ yếu ở phần cột sống ngực (58,5%) và nằm ở dưới màng cứng - ngoài tủy (61%). Phẫu thuật cắt cung sau (laminectomy) được áp dụng cho 87,8% trường hợp. Ngoài ra, các phương pháp khác như cắt nửa cung sau (hemilaminectomy) và mở cung sau rồi đặt lại mảnh xương (osteoplastic laminotomy) cũng đã được thực hiện. U rễ thần kinh và u màng não là hai loại u chiếm tỷ lệ cao (51,2% và 24,3%). Sau phẫu thuật có 35/41 trường hợp có kết quả hồi phục. Hai trường hợp tái phát sau mổ, 1 trường hợp nhiễm khuẩn nông và 1 bệnh nhân tử vong do di căn ung thư tiền liệt tuyến. Kết luận: phẫu thuật u tủy cho kết quả tốt, các phương pháp mổ ít xâm phạm ngày càng được áp dụng

Trên đây là tóm tắt của tài liệu:" Phẫu thuật u tủy sống ". Trong toàn văn không có lỗi chính tả. Để đọc toàn văn xin nhấn Download

MÃ TÀI LIỆU
DTCSS00635
Loại tài liệu  (.pdf)  Lượt tải:  0
Mức phí: : 10.000 điểm Tài khoản của bạn có: điểm
Nhấn Like bạn có cơ hội nhận 30.000 điểm.
Nhấn Download
Để tải tài liệu về máy.
Nhấn Thanh toán Để tìm hiểu các phương án nạp điểm ưu việt.
Thanh ton an toan với Bảo Kim !
 Hỗ trợ viên
Chat with Hotro 01  Chat with Ho tro 02  Chat with Ho tro 02
 
PHẦN MỀM HỖ TRỢ DOWNLOAD IDM LÀ NGUYÊN NHÂN HỆ THỐNG TRỪ SAI ĐIỂM ( TẮT NÓ TRƯỚC KHI TẢI TÀI LIỆU )
ĐỂ ĐẢM BẢO QUYỀN LỢI CỦA CÁC BẠN:
KHI CÓ LỖI LIÊN QUAN ĐẾN NẠPTRỪ ĐIỂM, TÀI LIỆU CHỈ CÓ MỘT PHẦN XIN VUI LÒNG LIÊN HÊ BỘ PHẬN HỖ TRỢ.
HOTRO@THUVIENYKHOA.VN ( 24/24H ) - : 0978.770.836 - 0932.716.617 ( 8AM - 12PM )

BẠN CÓ THỂ TÌM KIẾM NỘI DUNG BỔ SUNG Ở ĐÂY
       
Tài khoản
Mật khẩu
Lưu mật khẩu
Đăng ký | Quên mật khẩu
Ebook hay
Kaplan Tăng huyết áp Lâm sàng 10e
Chẩn đoán Mạch máu Không xâm lấn 2e
Siêu âm Tim đồ 3 chiều Thời gian thực
Nghệ thuật và Khoa học của Khám Tim lâm sàng
Xem thêm
 
QUẢNG CÁO
   
 
 
CACH CHOI FUN88
 
Chuyên mục Mẹ Việt dạy con
 

An ninh - Hình sự

 
Tư vấn du học nhật bản 2014